Hòa thượng pháp danh Như Thanh, tự Giải Chánh, hiệu Huyền Âm. Thuộc dòng Lâm Tế Chúc Thánh, đời thứ 41 Thế danh Hà Văn Trạc, sanh năm 1922 tại thôn Chánh Mẫn, xã Cát Nhơn, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Thân phụ ngài là Hà Vọng, tự là Chấn cũng gọi là Giáo Hai, thân mẫu là Nguyễn Thị Phục tự là Thục. Song thân của ngài là Phật tử thuần thiện kính tin Tam Bảo. Hòa thượng có tất cả chín anh chị em ruột, Ngài là con thứ chín trong một gia đình nho phong thanh bạch. Thân phụ Ngài là thầy đồ nổi tiếng trong địa phương, cũng là một thầy thuốc đông y giỏi, lưỡng tự tinh thông, pháp văn khả dĩ.
Lúc Hòa thượng mới tám tuổi vào ngày mùng 1 tháng 11 năm Canh Ngọ thì thân phụ của Ngài qua đời. Gia dình cung thỉnh Hòa thượng Như Từ trụ trì và chư tăng chùa Sắc tứ Thiên Bình ở làng Trung Lý (Nhơn Phong – An Nhơn) đến cử hành tang lễ đưa thân phụ của Ngài về nơi an nghỉ.
Sau khi Hòa thượng Như Từ và chư tăng chùa Thiên Bình đến giúp tang sự của phụ thân Ngài xong, nhờ túc duyên thiện căn lợi trí sẵn có khi gặp duyên tốt liền nẩy mầm. Ngài trực nhận được hữu vi pháp là mộng huyễn, thế sự là phù du, chỉ có đạo giải thoát là chí yếu chơn thật. Ngài liền xin ông nội thúc, bạch với Hòa thượng Như Từ cho Ngài được, xuất gia học đạo và được Hòa thượng hứa khả tiếp nhận.
Ngày mùng 8 tháng 12 cùng năm trong đại lễ kỷ niệm Đức Phật thành đạo, Ngài được Bổn sư Như Từ quy y với pháp danh Thị Chơn, từ đó Ngài quyết chí chuyên tâm tu học.
Đến ngày 15 tháng 03 năm Bính Tý (1936) tại chùa Long Đa, xã Phước Hưng, huyện Tuy Phước – Bình Định, Ngài chính thức được thế phát xuất gia.
Năm 1932-1937, Ngài học văn hóa tại trường Trung học TuyPhước và học giáo lý tại chùa Long Đa.
Ngày 15 tháng 7 năm 1939, Ngài thọ giới Sa di tại chùa Thiên Đức. Năm 1941 thọ giới Tỳ kheo tại chùa Thập Tháp Bình Định. Lúc này Ngài theo tu học tại chùa Phước Quang xã Nhơn Phong, Bình Định.
Từ năm 1942 đến 1946, Ngài tu học và phụ việc với Hòa thượng Bích Liên, Chủ bút của tờ báo Từ Bi Âm, một cơ quan ngôn luận của Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học tại Sài Gòn. Ngài nhập chúng tu học tại chùa Thiệu Long, xã Mỹ Quang, Bình Định.
Năm 1944, Hòa thượng Tăng cang thượng Trí hạ Thắng về thăm chùa Tịnh Liên, lúc đó Ngài theo hầu Hòa thượng Tăng Cang thượng Trí hạ Thắng trú trì chùa Thiên Hưng lúc bấy giờ, xã Văn Hải, Phan Rang, Ninh Thuận. Khi Hòa thượng trở về Phan Rang thì Ngài xin làm thị giả theo về và đảnh lễ Hoà thượng Tăng cang làm Y chỉ sư, mới ban Pháp danh cho Ngài là Như Thanh tự Giải Chánh hiệu Huyền Âm để phù hợp với thế đạo. Rồi Ngài trở về xứ Bình Định để hướng dẫn cho chúng đệ tử và bà con cùng tu học Phật.
Năm 1951 đến 1956, với tâm nguyện truyền đăng tục diệm lưu truyền giáo pháp Như Lai, lợi ích cho chúng sanh, Ngài phát nguyện khai sơn chùa Hoa Lâm tại thôn Liêm Trực, huyện An Nhơn và chùa Sơn Tịnh, thôn Vạn Hòa, xã Ân Hảo, Hoài Ân, Bình Định. Ngoài trụ trì đảm trách hai chùa trên, Ngài còn nằm trong ban Hoằng pháp Phật giáo Việt Nam của huyện Hoài Ân.
Năm 1963, Ngài được thỉnh cử trong Hội đồng Thập sư tại Giới đàn chùa Minh Tịnh thành phố Quy Nhơn với đương vi Giáo thọ A-xà-lê sư. Giới đàn này Ngài Huệ Pháp làm Đường đầu Hòa thượng.
Năm 1965, Đại Giới đàn chùa Tây Thiên xã Nhơn Hưng, An Nhơn, Ngài được thỉnh cử với đương vi Yết Ma A-xà-lê-sư. Giới đàn này Hòa thượng Phước Hưng làm đàn đầu.
Năm 1966, nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử tại đất Bình Định, Ngài trở vào Phang Rang đảnh lễ Hòa thượng Tăng cang trú trì chùa Thiên Hưng, xin nhập chúng và tu học tại chùa Thiên Hưng.
Năm 1969, Ngài đã thưa Hòa thượng Tăng cang về Khuôn Hội, Tân Hội lúc bấy giờ, hoằng pháp cùng với Hòa thượng Huyền Ý (Thiên Tứ).
Năm 1971, Ban hộ tự và các hương thân phụ lão chùa An Lạc thỉnh Hòa thượng và được Giáo hội Phật giáo Việt Nam bổ nhiệm trụ trì chùa An Lạc, thôn Phước Khánh, xã Phước Thuận, Ninh Phước, Ninh Thuận.
Năm 1973, Ngài đảm trách ngôi vị Phó kiểm Tăng, kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Phật giáo Cổ Sơn Môn Tỉnh hội Ninh Thuận, trụ sở Giáo hội đặt tại chùa Long Sơn.
Đến tháng 01 năm 1975, Ngài thôi tất cả các chức vụ và ở chùa lo việc Tam Bảo, chuyên tâm tu hành, nhiều lần trùng tu ngôi Bảo điện và Đông lan, Tây lan để được khang trang hơn.
Khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập, thỉnh Ngài tham gia GHPG tỉnh Ninh Thuận (cũ), trên tinh thần hòa hợp Ngài tham gia vào Phật giáo huyện Ninh Phước 02 nhiệm kỳ khóa IV và V chức vụ Trưởng ban đại diện, sau đó chứng minh BTSPG huyện Ninh Phước và chứng minh BTS tỉnh Ninh Thuận (cũ) và nay chứng minh BTSPG tỉnh Khánh Hòa.
Với ý chí hảo tâm xuất gia học đạo, Ngài trụ thế trên trăm năm, đời Ngài cũng đã vượt qua biết bao biến cố thăng trầm trong các thời đại từ trong Phật pháp đến tận ngoài đời. Nhưng đã đứng vững như thạch trụ tùng lâm, đã khai sơn 2 tự viện và giáo dưỡng đào tạo môn đồ hơn chục đệ tử. Tăng Ni Phật tử tỉnh Ninh Thuận đều một lòng tôn kính Ngài.
Những ngày cuối đời, dù đã 104 tuổi, nhưng khi môn đồ thăm viếng, Ngài vẫn tỉnh táo nhắc nhở tinh tấn tu hành, và rồi tuổi già sức yếu, Môn đồ pháp quyến đã tận tụy chăm lo cho Hòa thượng rồi Ngài đã thuận thế vô thường thâu thần an nhiên thị tịch vàolúc 19 giờ 27 phút, ngày 03 tháng 01 năm 2026 (nhằm ngày 15 tháng 11 năm Ất Tỵ) tại chùa An Lạc, thôn Phước Khánh, xã Ninh Phước, tỉnh Khánh Hòa.
Trụ thế 104 tuổi, 84 hạ lạp. Môn đồ pháp quyến vô cùng thương kính cúi đầu tiễn Ngài về Niết bàn.
Nam mô An Lạc đường thượng từ Lâm Tế Chánh tông tứ thập nhứt thế, Khai sơn trụ trì Hoa Lâm và Sơn Tịnh tự. Húy thượng Như hạ Thanh, tự Giải Chánh, hiệu Huyền Âm.
Hòa thượng Giác linh thùy từ chứng giám.
























